KỸ THUẬT TRỒNG RỪNG CÂY NGÂN HOA

Ngân hoa là cây mọc nhanh, thường xanh, thân thẳng, tán lá rậm và gọn, hình thái rất đẹp mắt cho nên được trồng vừa để lấy gỗ vừa làm cây cảnh trong xanh hóa đô thị và nông thôn. Ngân hoa rất ít sâu bệnh, thích nghi với khí thải độc hại rất tốt, lá có khả năng dính bám bụi tốt góp phần làm sạch không khí nên thường được chọn làm cây xanh hóa.

KỸ THUẬT TRỒNG RỪNG CÂY NGÂN HOA

 

Ngân hoa là cây mọc nhanh, thường xanh, thân thẳng, tán lá rậm và gọn, hình thái rất đẹp mắt cho nên được trồng vừa để lấy gỗ vừa làm cây cảnh trong xanh hóa đô thị và nông thôn. Ngân hoa rất ít sâu bệnh, thích nghi với khí thải độc hại rất tốt, lá có khả năng dính bám bụi tốt góp phần làm sạch không khí nên thường được chọn làm cây xanh hóa.

Thông tin cơ bản

Tên thường gọi: Ngân Hoa
Tên khác: Trái bàn
Tên tiếng Anh: Robust Silk Oak, Silky Oak, Warragarra.
Tên khoa học: Grevillea robusta A.Cunn. ex R.Br.
Thuộc họ Mạ sưa - Proteaceae

Đặc điểm sinh học, sinh thái

Mô tả

Cây rất cao to, chiều cao có thể đạt tới 37- 40m, đường kính có thể đạt tới 80-100cm, thân rất thẳng và tròn đều, vỏ cây màu nâu đen, vết rạn nông. Tán lá gọn và dầy, cành non, chồi non có lớp lông nhung mầu nâu, lá kép lông chim mọc cách, lá màu xanh đậm, mặt dưới có lông nhung mầu nâu, khi lá già lông nhung chuyển màu xanh xám. Hoa lưỡng tính, chùm hoa dài có màu vàng chanh rất đẹp. Hạt có cánh quanh mép, hạt chứa dầu.

 Vothan NganHoaVỏ thân        Canhhoa NganHoaCành mang hoa

 La NganHoaLá          Hoa NganHoaHoa

 Qua NganHoaQuả có chân  Laquakho NganHoaLá và quả lúc khô

 Quakho NganHoaQuả lúc khô   Quahatkho NganHoaQuả và hạt lúc khô

Phân bố

Vùng nguyên sản Ngân Hoa là Australia, thường gặp trên các rừng mưa thường xanh và các vùng nửa khô hạn phía nam bang Qeensland và phía bắc bang Newsouthwale, gần như trùng khớp với vùng phân bố của Macadamia Tetraphylla – một loài cùng họ Proteaceae rất nổi tiếng về hạt cho dầu.

Vùng phân bố tự nhiên nằm trên bờ biển đông Úc, cao trình từ 0 đến 1.120m, trải dài từ 24 0 30' đến 30 0 10' vĩ độ nam với chiều dài gần 700km và rộng 160 km.

Đặc tính sinh thái

Nhiệt độ bình quân năm vùng phân bố tự nhiên từ 14.7 0 C đến 20.1 0 C, lượng mưa hàng năm từ 720 đến 1.710 mm, nhiệt độ bình quân tháng trong mùa nóng từ 28 đến 30 0 c, bình quân tháng trong mùa lạnh từ 5-6 0 c, khí hậu được xếp loại từ nóng ẩm quanh năm đến nóng ấm có mùa khô không quá dài.

Tại vùng nguyên sản, Ngân Hoa phát triển rất tốt trên các loại đất feralit đỏ phát triển trên đá Ba- zan, đất đen trên bồi tích ven sông, nhưng vẫn sinh trưởng được trên đất sỏi đá, hoặc tầng đất không đủ sâu.

Do tán cây rất đẹp, từ năm 1830 Ngân Hoa đã được dẫn giống gây trồng tại nhiều vùng địa lý khác trên thế giới. Năm 1830 đã được gây trồng trong nhà kính tại Anh làm cây cảnh, sau đó được dẫn giống tới các vùng khác của Châu Âu cũng để làm cây cảnh. Từ 1860, vườn thực vật Manbourn đã chuyển giao hạt giống cho Srilanka, sau đó tiếp tục được dẫn giống và gây trồng rộng rãi tại ấn Độ. Từ năm 1900, Ngân Hoa được dẫn giống và gây trồng tại Algerie và Nam Phi, sang đầu thế kỷ 20 loài này được gây trồng tại các vùng á nhiệt đới và cao nguyên nhiệt đới các nước thuộc nhiều châu lục khác. Ngân Hoa được dẫn giống gây trồng tại Quảng Châu - Trung Quốc từ năm 1925, sau đó được trồng nhiều tại Côn Minh - Vân Nam, đến nay các tỉnh Hải Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Hồ Nam, Triết Giang đều đã gây trồng rộng rãi.

Những theo dõi tại Vân Nam cho thấy ở vùng núi cao, nhiệt độ bình quân năm 15-16 oC, cực trị tối cao 30-35 oC, cực trị tối thấp – 4 oC Ngân hoa có thể phát triển tốt.

Tại vùng ấm áp hơn phía giáp Việt Nam , nhiệt độ bình quân năm 17-18 oC, cực trị tốt cao 35-36 oC, cực trị tối thấp – 0,5 oC Ngân Hoa phát triển tốt nhất.

Tại vùng Cảnh Hồng giáp Miến Điện, nơi khí hậu nóng và mùa khô dài 6 tháng như Thượng Lào, nhiệt độ bình quân năm 21,6 oC, cực trị tối cao 41 oC, cực trị tối thấp 4,2 oC cây phát triển kém hơn.

Sau khi gây trồng rộng rãi ở Trung Quốc, các vùng được coi là thích hợp để gây trồng cần có nhiệt độ bình quân năm từ 15-28 0 c, lượng mưa từ 700-1500mm trở lên, cao trình từ 0 đến 2.300m.

Các vùng gây trồng khác có lượng mưa lớn hơn 2000mm tại ấn Độ, vùng quần đảo Hawai và vùng vịnh Caribea thường có biểu hiện sâu bệnh. Tại nhiều quốc gia khác, cây Ngân Hoa có thể sinh trưởng tốt ở các vùng có lượng mưa 400-600mm hàng năm.

Những cây đầu tiên trồng tại sân Bộ Nông nghiệp & PTNT trong tư thế không bị chèn ép về ánh sáng đều đạt đường kính 1.3 = 27-28cm sau 8 mùa sinh trưởng, những cây trồng tại trại cây ăn quả Nghĩa Đàn Nghệ An cũng đạt D 1.3 từ 30 đến 40 cm sau 15 năm, trong đó những cây đạt kích thức lớn đều không bị chèn ép về ánh sáng, kể cả ánh sáng chiếu bên sườn.

Chỉ có thời kỳ cây con ở vườn ươm, Ngân Hoa đòi hỏi được che bóng nhẹ, nhưng thời kỳ này rất ngắn. Ngay từ năm trồng rừng đầu tiên, loài này đã thể hiện đòi hỏi ánh sáng đầy đủ. Đặc điểm tán lá gọn và đòi hỏi được chiếu sáng cả trên đỉnh và bên sườn tán lá của cây Ngân Hoa rất giống cây mỡ (Manglietia glauca), Ngân Hoa được coi là loài cây không phù hợp với việc trồng rừng thuần loại mật độ cao. Vấn đề này sẽ được thảo luận kỹ hơn trong phần cấu trúc rừng trồng.

Cành Ngân Hoa khá ròn, gặp bão lốc tán lá có thể bị tổn thương nặng.

Ngân Hoa ưa đất tơi, xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, rất kỵ ngập úng và đất bí chặt. Phản ứng đất hơi chua phù hợp với Ngân Hoa, pH tốt nhất là 5,5 đến 6,5, nếu pH > 7,0 lá vàng hoặc có biểu hiện thiếu sắt (gân xanh lá vàng), dần dần hỏng ngọn, cây cằn cỗi hoặc chết.

Bộ rễ cây Ngân Hoa phát triển khá sâu, rộng, nói chung bộ rễ Ngân Hoa rộng hơn khá nhiều so với hình chiếu tán lá. Nếu đất tơi xốp và thoát nước, rễ Ngân Hoa phát triển khá sâu và chững lại ở nơi tích đọng nước ngầm. Trong trường hợp mực nước ngầm nông, rễ bàng rễ cám sẽ phát triển rất mạnh; nếu tầng đất mặt bị ngập úng quá lâu cây có thể bị chết. Ngân Hoa không chịu ngập úng, về cơ bản có thể coi là cây chịu hạn, có thể sống và phát triển ở nơi có mùa khô.

Ngân hoa là cây thường xanh, có tập tính thay lá vào tháng 3-4, nếu không khí và đất đều ẩm hiện tượng rụng lá già, trổ lá non sẽ đến muộn, nếu ngược lại, hiện tượng thay lá ít nhiều có tính cưỡng bức sinh lý, mùa thay lá sẽ đến sớm hơn.

Giá trị kinh tế

Cây Ngân Hoa do nhà thực vật học nổi tiếng Alan Cunningham phát hiện trên lưu vực sông Brisban (úc) năm 1827, thuộc họ Proteaceae – họ Mạ sưa (họ Cơm vàng, họ Đúng, họ Quắn hoa, họ Chẹo thui).

Ngân hoa là cây mọc nhanh, thường xanh, thân thẳng, tán lá rậm và gọn, hình thái rất đẹp mắt cho nên được trồng vừa để lấy gỗ vừa làm cây cảnh trong xanh hóa đô thị và nông thôn.

Ngân hoa rất ít sâu bệnh, thích nghi với khí thải độc hại rất tốt, lá có khả năng dính bám bụi tốt góp phần làm sạch không khí nên thường được chọn làm cây xanh hóa.

Tỷ trọng gỗ Ngân Hoa đạt 0,67 hơi nặng hơn các loại gỗ trong nhóm cây mọc nhanh trồng rừng hiện nay (Bạch đàn 0,6; Keo mỡ 0,56; Keo trắng 0,33 – 0,4; Lát mexico 0,6; Mỡ 0,54; Xà cừ 0,7...)

Gỗ Ngân Hoa có ánh quang như gỗ Mỡ, gỗ non mầu vàng nâu, gỗ già đỏ nâu, hệ số co rút hướng tâm 0,092%, co rút hướng cung 0,243%, ứng lực uốn ngang 565kg/cm 2 , ứng lực nén dọc thớ 31,75Mpa. Độ cứng hướng tâm 30,08 mpa, hướng cung 32,34Mpa. Gỗ Ngân Hoa có thể làm ván trang trí bề mặt ván nhân tạo, đóng đồ, gường tủ, trang trí nội thất. Độ dài sợi từ 0,9-2,5mm có thể làm nguyên liệu giấy.

Các nước đã dẫn giống cây Ngân Hoa thường gây trồng trong các trường hợp sau đây:

  • Trồng trong công viên vườn hoa, đường phố, đường giao thông và trồng cây phân tán ở công sở, nhà máy và nông thôn vì loài cây này ưa sáng, thân cây luôn luôn thẳng đứng, dù nguồn sáng lệch hướng cũng ít bị lệch tán, tán gọn, đẹp mắt, thường xanh, thích nghi với ô nhiễm công nghiệp rất tốt, hoa vàng rất đẹp.
  • Trồng làm cây che bóng cho cây công nghiệp (chè, cà phê…) với mật độ thấp, tán cây rất cao.
    • Làm cây hỗn giao cho rừng gỗ lớn với vai trò cây tiên phong (trồng rừng hỗn giao không đều tuổi ) hoặc được đặt ở vị trí tầng nhô (hỗn giao đều tuổi).

Kỹ thuật trồng rừng

Thu hái hạt giống

Ngân Hoa ra hoa tháng 4-5, quả chín tháng 6-7. Khi chín màu quả chuyển từ xanh sang nâu, gặp trời nắng đẹp, quả tự nổ và hạt có cánh tự bay theo gió, vì vậy cần thu hái kịp thời.

Sau khi thu hái cần phơi khô, làm sạch và bảo quản khô, mặc dù hạt chứa dầu nhưng hàm lượng dầu không cao, vẫn có yêu cầu bảo quản khô. Hạt sạch và chắc mẩy có trọng lượng 1000 hạt là 11,435g, mỗi kg thường có 70.000 đến 112.000 hạt. Trong hạt có phôi nhũ với một lượng dầu nhỏ. Do chứa dầu nên thời hạn bảo quản không dài ở nhiệt độ trong phòng, nếu gieo ngay từ tháng 7-8, tỷ lệ nẩy mầm có thể đạt 70% - 90%, nếu để đến mùa xuân năm sau tỷ lệ nẩy mầm chỉ còn một nửa (35% đến 45%). Bảo quản khô và lạnh, thời hạn bảo quản có thể kéo dài 2 năm.

Gieo ươm

Hạt không có thời gian ngủ, tốt nhất là thu hái xong gieo ngay sẽ đạt tỷ lệ nẩy mầm rất cao. Trước khi gieo cần ngâm hạt cho hút no nước trong 24 giờ.

Sau khi vớt hạt cần hong gió cho ráo nước để hạt không dính bết khi gieo. Với cách xử lý này, hạt có thể nẩy mầm sớm 4-5 ngày, nẩy mầm đều hơn và sức sống mạnh hơn.

Luống gieo cần có tầng đất mặt nhỏ mịn và tơi xốp, tương đối phì nhiêu, tốt nhất là đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, sau khi làm đất cần đánh luống đảm bảo thoát nước tốt. Nên bón lót phân chuồng hoai mục, lượng bón 3-5kg/m 2 , cần san mặt luống thật phẳng.

Có thể gieo vãi hoặc gieo theo rạch, lượng hạt gieo khoảng 20g/m 2. Khi cây mạ cao được 10-20cm cần đánh chuyển (ra ngôi) sang luống ươm hoặc vào bầu.

Chuẩn bị cây cho trồng rừng lấy gỗ thường phải dùng bầu để tạo cây xuất vườn có chiều cao 0,8 – 1,0m. Đường kính bầu thường dùng 14-16cm.

Chuẩn bị cây cho xanh hóa thường ươm thẳng trên đất.

Nếu tiêu chuẩn cây xuất vườn là 1,5 đến 2,0m, 1 năm tuổi, dãn cách ươm 80 x100cm.

Ươm cây 2 tuổi, tiêu chuẩn chiều cao xuất vườn 4-5m cần dùng dãn cách rộng hơn.

Tạo bộ rễ hoàn hảo trong khuôn khổ bầu đất sẽ đánh chuyển khi xuất vườn là rất quan trọng. Khi cây còn nhỏ có thể đảo cây – đánh chuyển, xén rễ tới kích thước bằng 1/2 bán kính bầu (sẽ đánh khi xuất vườn), lần đảo cây sau lại đẩy điểm xén ra hơn tới 2/3 bán kính bầu. Cũng có thể đào rãnh quanh gốc và dùng mai, thuổng để làm đứt đầu rễ. Trước khi đánh trồng khoảng 10-12 ngày lại phải đào trước 2/3 rãnh quanh bầu nhằm tăng tỷ lệ sống và phục hồi nhanh cho cây sau khi trồng.
 
Cấu trúc rừng trồng

Ngân Hoa có thể là cây dùng cho sản xuất gỗ lớn, có thể làm cây phong cảnh rất được ưa chuộng cho trang trí kiến trúc, công viên vườn hoa, cơ quan trường học, công xưởng và làm cây đường phố, đường giao thông.

- Trường hợp dùng Ngân Hoa làm cây xanh hóa – phong cảnh : yêu cầu quan trọng nhất là cần chọn nơi đủ ánh sáng, đất tơi xốp và nhất thiết phải thoát nước tốt.

Nếu trồng theo kiểu công viên thành lùm thành đám, không gian sống ban đầu có thể bố trí 3x3m hoặc 4x4m, trong quá trình trưởng thành sẽ tỉa thưa dần theo yêu cầu thẩm mỹ.

Nếu trồng trên đường phố hay đường giao thông sẽ không thể tỉa chọn, giãn cách phải bố trí từ đầu là 5 đến 6 m, nếu trồng 2 hàng cũng phải bố trí dãn cách 4x5m đến 4x6m, đất tốt cần bố trí tới 6x6m. Trồng Ngân Hoa trong công viên và đường phố cần dùng cây con cao 2m, thậm chí 4m , được cấy trồng trong vườn ươm với dãn cách 1 đến 2m, trong quá trình ươm phải xén đứt đầu rễ nhiều lần để định hình bộ rễ cho phù hợp khuôn khổ bầu sẽ đánh đi trồng. Với cây cao 2m, kích thước hố trồng rộng 0,6 x0,6m đến 0,7 x 0,6m; cây cao 4-5m kích thước hố trồng nên rộng 0,8 đến 1,0m sâu 0,7 – 0,8m.

- Dùng Ngân Hoa làm cây che bóng cho cây công nghiệp: thường là che bóng cho cây Chè, Cà phê (rất thường gặp ở Srilanka và Ấn Độ).

Thường mỗi ha chỉ trồng 30-40 cây Ngân Hoa rất cao và tán gọn, bóng cây di chuyển theo hướng nắng mặt trời sẽ tạo ra hiệu quả che bóng đều. Ban đầu có thể tạo 30-40 lùm, mỗi lùm 3-5 cây để đẩy mạnh phát triển chiều cao và tạo tán gọn, sau đó chọn nuôi 1 cây cao nhất làm cây che bóng.

- Dùng Ngân Hoa làm cây trồng rừng cho gỗ lớn: Ngân Hoa không phù hợp với tạo rừng đơn ưu mật độ cao do các tập tính rất ưu sáng, cành lá không thể đan xen vào nhau, những cành bị cây bên cạnh che bóng sẽ nhanh chóng bị tỉa cành tự nhiên, với phần tán lá còn lại quá nhỏ cây sẽ mọc rất kém. Tập tính này rất gần với cây Mỡ (manglietia glauca); ở rừng Mỡ cành lá không bao giờ đan xen được vào nhau, bộ rễ cũng không thể đan xen với cây cùng loại, vì vậy ở rừng Mỡ thuần loại, tán lá và bộ rễ mỗi cá thể chỉ chiếm được một không gian biệt lập và nhỏ bé. Rừng Mỡ trồng với mật độ cao nếu tỉa thưa muộn thì cho dù có tỉa thưa rất mạnh cũng không thể nuôi thành gỗ lớn với nhịp độ tăng trưởng như ý.

Một đặc điểm khác rất đáng ghi nhận ở cây Ngân Hoa là trong khi không thể chịu đựng sự che bóng của tán cây khác thì dưới tán cây Ngân Hoa nhiều loài khác lại có thể phát triển tốt, kể cả cây Lát Hoa vốn là cây khá ưa sáng khi đã trưởng thành. Có thể lợi dụng đặc điểm này để giúp tạo khúc thân cho gỗ dài và thẳng cho các loài cây mà tán lá thường sớm xòe rộng, gỗ ngắn như Lát Hoa, Xà Cừ, Lim Xanh, nhiều loài khác trong họ đậu, họ xoan, họ re, họ sồi giẻ….

Căn cứ vào các đặc điểm trên, để hướng tới mô hình trồng rừng gỗ lớn phát triển ổn định cho năng suất cao, có thể phác thảo một số mô hình thử nghiệm với cây Ngân Hoa ở tầng trên cùng và Lim, Lát, Giổi, Sồi giẻ v.v… ở tầng thứ 2 cùng tuổi hoặc ít tuổi hơn tầng Ngân hoa.

Với tầng Ngân hoa: căn cứ vào đặc điểm tăng trưởng, đặc điểm tán lá, dãn cách hàng của tầng Ngân Hoa không nên nhỏ hơn 8 đến 10m, dãn cách cây cho trường hợp dãn cách hàng 8m nên là 3m và cho trường hợp dãn cách hàng 10m nên là 2,5m; mật độ trồng ban đầu là 407 và 400cây/ha.

Đợi đến khi tỉa cành tự nhiên bắt đầu mạnh mẽ do cạnh tranh trong hàng (sau tuổi 10) cần cương quyết chặt bỏ 1/2 , chọn nuôi 200 cây tốt nhất nhằm mục tiêu tới tuổi 25 đến 30, số cây này đã có được khúc gỗ dài và thẳng với thể tích sản phẩm mỗi cây khoảng 0,86 đến 1,33m3 (tạm tính chiều dài khúc gỗ là 10m, f 1.3 » 40-50cm f L 2 » 70% f 1.3 ): sản lượng bình quân năm của tầng Ngân Hoa có thể mong đợi là 7-8m3/ha.

Với tầng cây hỗn giao: vấn đề bố trí không gian sống về cơ bản nên xử lý giống tầng Ngân Hoa – trồng xen 1 hàng giữa 2 hàng ngân hoa, dãn cách gấp 2 đến 3 lần giãn cách cuối cùng (tốt nhất là gấp 2 để chặt bỏ 1 chọn nuôi 1).

Thời gian trồng hàng hỗn giao (hay cấu trúc tuổi) có thể có 2 phương án xử lý:

a. Với những loài rất ưa sáng mà không cần sự che bóng của loài cây khác vẫn tự tạo được khúc thân đẹp như cây Tếch, có thể trồng hàng hỗn giao đồng thời với hàng Ngân Hoa, tạo thành rừng đều tuổi.

b. Với những loài chịu được sự che bóng nhẹ ban đầu và lại cần có cây khác che bóng mới tạo được khúc thân đẹp như Cà ổi lá đỏ, Giổi bắc và nhiều loài trong họ đậu, họ long não, họ giẻ… nên trồng hàng hỗn giao này chậm vài ba năm đến 5 năm.

Một số loại như Lim, Lát hoa, Lát mexico khi trồng nơi trống trải thường bị sâu đục ngọn phá đỉnh sinh trưởng, tán lá, hình thân bị hỏng rất sớm, nếu trồng muộn hơn 3-5 năm (gần như trồng trong rạch ) thì việc tạo tán, tạo thân sẽ tốt hơn nhiều. Khoảng thời gian chờ đợi 3-5 năm để trồng tiếp hàng hỗn giao, tốt nhất là trồng xen cây nông nghiệp.

Với cách làm như trên, tổng mật độ cây nuôi dưỡng thành gỗ lớn sẽ là 400c/ha. Với các loài như Lim xanh, Lát hoa, sau khi khai thác Ngân Hoa, những loài này còn phải được nuôi thêm hàng chục năm nữa để tạo gỗ lõi trong chế độ 200c/ha. Mật độ đó có thể là vừa hoặc hơi dày.

Với các loài có thể phát triển tốt trong điều kiện bị che bóng bên sườn trong toàn bộ chu kỳ nuôi gỗ lớn như Cà ổi lá đỏ hay Giổi Bắc và Lát mexico cho dù tuổi khai thác chính chỉ ngang với Ngân Hoa, những cây này vẫn có thể phát triển bình thường trong chế độ 400c/ha cho đến lúc khai thác chính.

Theo kết quả nghiên cứu của trung tâm thực nghiệm lâm nghiệp nhiệt đới (Bằng Tường – Quảng Tây) thì nhiều loài cây mọc trong điều kiện hỗn giao dưới tán cây khác đã cho nhịp độ tăng trưởng tốt hơn so với trồng thuần loại không có cây che bóng. Thí dụ: với cây Cà ổi lá đỏ, năng suất đại trà tại các lâm trường trồng theo kiểu thuần loại không có cây che bóng là 10-15m3/ha, trồng thâm canh kích thước hố 60 x 60 x 60 cm bón lót NPK 300g/gốc và có cây Thông che bóng tầng trên đã đạt năng suất 28m3/ha/năm.

Có thể hy vọng rằng phương án hỗn giao trong điều kiện đất và khí hậu phù hợp, hố trồng đủ kích thước có bón lót thỏa đáng sẽ cho tổng năng suất không ít hơn 15 m3/ha/năm.

(Theo Trung tâm Dữ liệu Thực vật Việt Nam)

Top